Điểm mặt các hệ thống phòng không hiện đại nhất của Iran


GDVN - Iran tuyên bố rằng “Trước đây không thể phát hiện các máy bay không người lái cỡ nhỏ, nhưng nay có thể phát hiện và bắn hạ chúng ngay trên không phận".

Trước tình hình căng thẳng ngày càng leo thang, nếu tiếp tục cứng rắn với phương Tây như hiện nay thì dù trước hay sau Tehran sẽ phải đối mặt với các cuộc công kích ác liệt, vì vậy Iran đang tập trung nâng cao khả năng phòng thủ nhằm đối phó với không quân Israel và Liên quân.

Sau đây là sơ lược những đánh giá cơ bản về các hệ thống phòng thủ của Iran.

Tổ hợp tên lửa đất-đối-không Tor M1 9M330

Tor M1 là hệ thống tên lửa tầm trung hiện đại được mua từ Nga. Nó có nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng chiến đấu, tiêu diệt các mục tiêu là máy bay ném bom, trực thăng, tên lửa hành trình, máy bay không người lái và các mục tiêu bay ở độ cao thấp đến trung bình.

Tor M1 có tích hợp hệ thống Rada tự động bám mục tiêu có tầm hoạt động 25km, khả năng phát hiện và nhận diện tối đa được 48 mục tiêu và bám sát 10 mục tiêu cùng lúc. Hệ thống có thể bắn hạ đồng thời 2 mục tiêu trong phạm vi của nó.

Thời gian triển khai khoảng 3 phút, phát hiện mục tiêu và khởi động tên lửa trong 5-8 giây, xác suất bắn hạ được mục tiêu khoảng 60-90%.

Những tên lửa của hệ thống Tor M1

Iran triển khai bắn thử hệ thống Tor M1

Hệ thống phòng không S-300 tự tạo của Iran

Là một hệ thống tên lửa tầm xa có những đặc điểm giống như hệ thống tên lửa S-300 của Nga. Với những nỗ lực mua S-300 không thành do sự phản đối của Liên Hiệp Quốc và Mỹ, nên Tehran đã đầu tư và nghiên cứu tự tạo ra được S-300 cho riêng mình với sự trợ giúp từ nước ngoài.

Tháng 11/2010, Iran đã thử nghiệm thành công và cho ra mắt trên kênh truyền hình Press Tv thành quả nghiên cứu nhiều năm gần đây.

Hệ thống có khả năng bắn hạ máy bay, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp và tên lửa đạn đạo ở tầm xa lên tới 166,7 km và độ cao khoảng 27,4 km. Radar của nó có khả năng đồng thời theo dõi đến 100 mục tiêu. Thời gian triển khai S-300 là 5 phút.

Đây được coi là một trong những hệ thống tên lửa chống máy bay mạnh nhất của Iran hiện nay. Các chuyên gia quân đội Nga cho hay, hệ thống tên lửa S-300 của Iran được cải tiến, nâng cấp dựa trên hệ thống S-200 với những thông số kỹ thuật gần giống S-300 của Nga, khả năng phòng thủ của hệ thống này vượt trội hơn so với hệ thống tên lửa Patriot của Mỹ. Đây là mối lo ngại lớn của không quân Mỹ và Israel khi tính đến việc không kích vào Iran.

Hệ thống phòng không Hong Qi-9/FD-2000 do Trung Quốc sản xuất

Iran đặt mua HQ-9 của Trung Quốc vào năm 2007. Là hệ thống phòng không đất-đối-không hiện đại “kết hợp” giữa S-300 của Nga và hệ thống Patriot MIM-04 của Mỹ. Là hệ thống phòng thủ tầm xa tiêu diệt các mục tiêu như máy bay tàng hình, tên lửa đạn đạo và các mục tiêu ở rất xa và di chuyển với tốc độ cao.

HQ-9/FD-2000 có độ cao hoạt động 25m-27km, phạm vi hoạt động (đối với mục tiêu là tên lửa đạn đạo) là 7-25 km.

Hệ thống S-300 tự tạo của Iran

Tổ hợp tên lửa phòng không Mersad

Iran đã tự mình sản xuất được tổ hợp tên lửa phòng không Mersad hiện đại tầm thấp, có khả năng tiêu diệt cả máy bay hiện đại của đối phương hoạt động ở tầm thấp và trung.

Tổ hợp tên lửa Mersad của Iran có tính năng tương tự như loại vũ khí phòng không tầm thấp hiện đang biên chế trong quân đội các nước phương Tây. Nó có thể hoạt động ngay cả trong môi trường có tác chiến điện tử, đồng thời nó có thể liên kết với các hệ thống rada khác trong hệ thống phòng thủ chung cấp quốc gia.

Tầm bắn hiệu quả và các thông số thử nghiệm của hệ thống này hiện chưa được tiết lộ, nhưng phiên bản cũ của nó là tên lửa Hawk có tầm bắn hiệu quả 25 km. Phát triển và nâng cấp hệ thống tên lửa phòng không hiện đại như Mersad giúp cho Tehran nâng cao đáng kể khả năng tự bảo vệ các cơ sở hạt nhân của mình trước nguy cơ tấn công từ bên ngoài.

Hệ thống Mersad do Iran tự chế

Iran tiến hành thử thành công một hệ thống phòng không nội địa mới mang tên Mersad

Hình ảnh tổ hợp tên lửa mới Mersad

Iran đã đầu tư nhiều tỉ USD cho việc nghiên cứu chế tạo và mua các hệ thống phòng thủ từ nước ngoài để xây dựng một thành trì vững chắc cho đất nước Hồi giáo này.
Vào đầu năm 2011, Iran tuyên bố đã bắn hạ 2 máy bay không người lái của Mỹ xâm phạm không phận nước này, dù quân đội Mỹ cho biết họ không có thông tin về vụ việc.

Xuân Quyết (theo Iran New Now)

đọc tiếp »

Su-30 và các biến thể


DATVIET - Su-30 hiện là tiêm kích xuất khẩu chủ lực của Nga với nhiều biến thể và tên gọi khác nhau.

Su-30 là một phát triển nâng cấp của Su-27, ban đầu được gọi là Su-27PU, thực hiện chuyến bay đầu tiên vào năm 1987. Sau đó, Su-27PU được đổi tên thành Su-30, NATO định danh là Flanker-C.

Vào năm 1990, Sukhoi đã giới thiệu một biến thể Su-30M, với chữ M có nghĩa là hiện đại hóa. Mẫu Su-30M sau này được chuyển cho Không quân Nga để tiến hành đánh giá.

Tuy nhiên, Su-30M không nhận được đơn hàng từ phía quân đội. Do đó, Sukhoi đã giới thiệu một biến thể mới hướng tới thị trường xuất khẩu có tên gọi là Su-30MK, với MK là viết tắt của hai chữ Modernizirovannyi Kommercheskiy, có nghĩa là hiện đại hóa và thương mại.

Từ Su-30MK bắt đầu xuất hiện thêm nhiều biến thể khác nhau và được đặt tên theo quốc gia được xuất khẩu.

Về cơ bản, các biến thể của Su-30MK là tương đương nhau, tuy nhiên tùy thuộc vào yêu cầu của từng quốc gia, thiết kế và trang bị của máy bay có sự điều chỉnh, chủ yếu là ở hệ thống điện tử và động cơ.

Su-30MKI

Su-30MKI là biến thể được thiết kế đặc biệt để xuất khẩu cho Ấn Độ, NATO định danh là Flanker-H. MKI là viết tắt của cụm từ (Модернизированный Коммерческий Индийский) trong tiếng Nga được dịch sang tiếng Anh là Modernized Commercial for India (hiện đại hóa và thương mại cho Ấn Độ)

Su-30MKI của Không quân Ấn Độ, biến thể mạnh nhất của gia đình Su-30.

Su-30MKI là biến thể có nhiều khác biệt nhất so với các biến thể còn lại của gia đình Su-30. Cụ thể Su-30MKI được trang bị thêm cánh mũi, động cơ đẩy vector 2D AL-31FP giúp tăng khả năng cơ động. Nhờ vậy, Su-30MKI được đánh giá là biến thể mạnh nhất trong gia đình Su-30.

Về hệ thống điện tử, Su-30MKI có hệ thống điện tử phức hợp từ nhiều quốc gia khác nhau bao gồm Israel, Ấn Độ, Nga và Pháp. Su-30MKI được trang bị radar NIIP N011M Bars, đây là một radar quét mạng pha điện tử bị động rất mạnh, cung cấp khả năng giám sát không đối không, đối đất, đối hải cùng lúc, hệ thống điều khiển vũ khí kỹ thuật số với khả năng kháng nhiễu rất tốt.

Radar N011M Bars có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly 350-400km với các mục tiêu cỡ lớn, theo dõi ở cự ly 200km, tầm quét phía sau là 60km. Radar của Su-30MKI có khả năng phát hiện F-16 ở cự ly từ 140-160km.

Radar này có khả năng theo dõi cùng lúc 15 mục tiêu và tấn công 4 mục tiêu cùng lúc. Vì vậy, Su-30MKI có khả năng hoạt động như một máy bay cảnh báo sớm (một dạng AWACS mini).

Su-30MKI có khả năng mang tất cả các loại vũ khí hiện đại nhất của Nga và Ấn Độ. Đặc biệt, Su-30MKI được tích hợp khả năng mang tên lửa hành trình BrahMos, có khả năng thực hiện cả nhiệm vụ đối đất và chống hạm, được xem là khả năng độc nhất vô nhị.

Dự kiến, tương lai Su-30MKI của Ấn Độ sẽ được nâng cấp hơn nữa với radar Irbis-E, cải tiến hệ thống điện tử hàng không, hệ thống tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu OLS-30, thiết bị ngắm bắn mục tiêu LITENING của Israel.

Su-30MKK

Đây là biến thể xuất khẩu riêng cho Trung Quốc, NATO định danh là Flanker-G, MKK có nghĩa là Mnogofunktzionniy Kommercheskiy Kitayski (máy bay chiến đấu đa năng thương mại cho Trung Quốc)

Biến thể Su-30MKK của Không quân Trung Quốc.

Theo yêu cầu của phía Trung Quốc, họ muốn tạo ra một biến thể Su-30MK hoàn toàn khác so với Su-30MKI của Ấn Độ. Su-30MKK không có cánh mũi và động cơ đẩy vector. Bù lại máy bay được chế tạo với tỷ lệ sử dụng vật liệu composite và sợi carbon cao hơn, khả năng chịu ứng suất trọng trường cao hơn.

Su-30MKK có một hệ thống điện tử hàng không được thiết kế để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của Không quân Trung Quốc. Đa phần các hệ thống điện tử được sản xuất tại Nga chứ không hỗn hợp như của Su-30MKI.

So với Su-30MKI của Ấn Độ, radar của Su-30MKK yếu hơn, cụ thể 20 chiếc Su-30MKK đầu tiên được trang bị radar N001VEP, chỉ có khả năng theo dõi 10 mục tiêu ở cự ly 100km, tấn công 4 mục tiêu cùng lúc hoặc 2 mục tiêu trên không và 2 mục tiêu dưới đất.

Su-30MK2

Là biến thể nâng cấp của Su-30MKK xuất khẩu cho Trung Quốc, chủ yếu nâng cấp hệ thống điện tử. Theo đó, radar N001VEP cho phép hỗ trợ phóng tên lửa chống tàu Kh-31A. Các nâng cấp của Su-30MK2 chủ yếu phục vụ như một máy bay tác chiến trên biển chuyên dụng.

Máy bay được trang bị hệ thống thông tin chiến thuật C4ISTAR (ra lệnh, kiểm soát, truyền thông, máy tính, tình báo, giám sát, tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu và trinh sát) đảm bảo khả năng hoàn thành nhiệm vụ cao hơn. Các nâng cấp mới cho phép tấn công mục tiêu chính xác hơn so với biến thể Su-30MKK

Su-30MK2 được đánh giá là biến thể mạnh thứ 2 của gia đình Su-30, tuy không có radar quét mạng pha điện tử bị động và động cơ đẩy vector như Su-30MK nNhưng Su-30MK2 có hệ thống điện tử hàng không rất hiện đại, các hạn chế về hứng chịu ứng suất trọng trường của Su-30MK được giải quyết hoàn toàn, khả năng mang tải trọng vũ khí lớn hơn so với Su-30MKI của Ấn Độ.

Su-30MK3: Là biến thể Su-30MKK của Trung Quốc từ chiếc số 21 trở đi được trang bị radar Zhuk-MSE, radar có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không với khoảng cách tối đa từ 110-180km, phát hiện mục tiêu cỡ tàu khu trục ở cự ly 300km.

Radar mới cho phép hỗ trợ phóng tên lửa chống tàu Kh-59 MK. Radar Zhuk-MSE cho phép tấn công 4 mục tiêu mặt đất cùng lúc thay vì chỉ hai mục tiêu như radar N001VEP.

Su-30MKV

Là biến thể MK xuất khẩu cho Venezuela, có nhiều điểm giống với Su-30MK2. Hệ thống điện tử hàng không và radar được trang bị không được công bố.

Su-30MK2V

Là biến thể Su-30MK2 xuất khẩu cho Việt Nam với một số cải tiến về hệ thống điện tử hàng không theo yêu cầu nhiệm vụ của Không quân Nhân Dân Việt Nam.

Biến thể Su-30MK2V của Không quân nhân dân Việt Nam.

Su-30MKA

Là biến thể MK xuất khẩu cho Algeria. Su-30MKA được cho là có nhiều điểm tương tự với Su-30MKI của Ấn Độ nhưng không có cánh mũi và động cơ đẩy vector. Hệ thống điện tử chủ yếu từ Nga và Pháp.

Su-30MKM

Là biến thể xuất khẩu riêng cho Không quân Hoàng gia Malaysia, Su-30MKM có một vài hệ thống điện tử tương tự như Su-30MKI của Ấn Độ. Hệ thống điện tử đa quốc gia từ Nga, Nam Phi và Pháp.

Su-30MKM có màn hình hiển thị HUD hiện đại, hệ thống dẫn đường hồng ngoại tiên tiến, thiết bị chỉ thị mục tiêu laser từ Pháp, cảm biến cảnh báo radar và cảm biến cảnh báo tên lửa của Nam Phi.

Biến thể Su-30MKM của Không quân Hoàng gia Malaysia.

Su-30MKM được trang bị cánh mũi như Su-30MKI của Ấn Độ nhằm tăng khả năng cơ động, nhưng không có động cơ đẩy vector.

Theo Defense Industrydaily, Su-30MKM được trang bị radar quét mạng pha điện tử bị động N011M BARS PESA tương tự như radar của Su-30MKI, cùng với các hệ thống điện tử hiện đại khác cung cấp khả năng tác chiến ngang ngửa với Su-30MKI của Ấn Độ.

Trong gia đình Su-30, biến thể Su-30MKI được đánh giá là mạnh nhất cả về khả năng cơ động và hệ thống điện tử hàng không. Các biến thể còn lại phần lớn là tương tự nhau, chỉ có một vài cải tiến nhỏ theo yêu cầu của từng quốc gia.

Việc nhận biết các biến thể chủ yếu dựa vào logo của không quân các quốc gia, ngoại trừ Su-30MKI và Su-30MKM có khác biệt ở cánh mũi, các biến thể còn lại có ngoại hình hoàn toàn giống nhau.

Tuy nhiên, trên cùng một mẫu máy bay chỉ cần có vài cải tiến về hệ thống điện tử, đặc biệt là hệ thống tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu có thể làm thay đổi đáng kể năng lực tác chiến của máy bay.

Ví dụ, chỉ cần thay thế trạm định vị mục tiêu quang điện OLS-27 bằng trạm OLS-30 có thể làm tăng đáng kể khả năng tấn công chính xác hoặc chỉ cần nâng cấp bộ vi xử lý của radar có thể làm tăng đáng kể số lượng mục tiêu có thể theo dõi hay tấn công cùng lúc.

Những cải tiến hay nâng cấp này đều thuộc vào bí mật của từng quốc gia, ngoại trừ Su-30MKI và Su-30MKK được công bố các thông số kỹ thuật khá rõ ràng, các biến thể cho các quốc gia còn lại đều không được công bố.

Quốc Việt (tổng hợp)

đọc tiếp »

Sát thủ diệt tăng Khrizantema


VNM - Khrizantema (NATO gọi là AT-15 Springer) là hệ thống tên lửa chống tăng của Nga được thiết kế để phá hủy các dòng xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại của Phương Tây.

Khrizantema bắt đầu được phát triển từ cuối những năm 1980 và chính thức giới thiệu năm 1996. Nó ra đời nhằm mục đích thay thế hệ thống tên lửa chống tăng kiểu cũ Shturm (AT-6 Spiral).

Hệ thống tên lửa chống tăng Khrizantema.

Tuy ra đời đã khá lâu nhưng mãi tới tận năm 2004, Khrizantema mới chính thức được chấp nhận phục vụ trong Quân đội Nga.

Khrizantema được đánh giá là một trong những hệ thống vũ khí uy lực nhất trên thế giới. Theo quảng cáo của nhà thiết kế, chỉ cần ba xe phóng Khrizantema là đủ để đối phó với 14 xe tăng chiến đấu chủ lực của đối phương và tiêu diệt không ít hơn 60% trong số đó.

Hệ thống tên lửa chống tăng Khrizantema thiết kế để hoạt động cả ban ngày và ban đêm, trong mọi điều kiện thời tiết.

Khrizantema thiết kế để phá hủy những dòng tăng hiện đại nhất hiện nay.

Nó sử dụng hai loại tên lửa diệt tăng tiêu chuẩn 9M123 và 9M123-2. Tên lửa 9M123 lắp đầu tự dẫn laser còn 9M123-2 dùng đầu tự dẫn radar chủ động.

Cả hai loại đều trang bị đầu đạn chống tăng “tandem” (hai lượng nổ) chuyên trị giáp phản ứng nổ (ERA). Nó hoàn toàn có thể đánh bại thiết kế tăng chủ lực Mỹ M1A2 Abram hay Leopard 2A6 của Đức.

Tên lửa sử dụng động cơ rocket nhiên liệu rắn cho phép đạt tầm bắn từ 400-6.000m, tốc độ bay trung bình 400m/s.

Ngoài ra, Khrizantema có thể phóng tên lửa 9M123F (đầu tự dẫn laser) hoặc 9M123F-2 (đầu tự dẫn radar) lắp đầu đạn áp nhiệt sử dụng để chống công sự kiên cố, xe thiết giáp hạng nhẹ, bộ binh đối phương.

Bên cạnh nhiệm vụ chống tăng, trong trường hợp cần thiết Khrizantema còn dùng để bắn hạ trực thăng bay thấp.

Đạn tên lửa đặt trong hai ống phóng, điều này cho phép Khrizantema đồng thời bắn tiêu diệt cùng lúc 2 mục tiêu. Trong xe chứa 15 đạn tên lửa và có thể tiêu diệt 15 mục tiêu trong vòng vài phút. Ống phóng được nạp tự động đạn từ thiết bị chứa đạn trong xe.

Nhưng trong trường hợp khẩn cấp, người ta có thể thao tác thủ công nạp đạn từ ngoài xe. Khi hành tiến, radar và ống phóng “thụt” vào trong xe để bảo quản.

Khrizantema phóng đạn tên lửa chống tăng.

Hệ thống tên lửa chống tăng Khrizantema thiết kế đặt trên khung thân xe chiến đấu bộ binh BMP-3. Vì thế, hệ thống cũng có lớp giáp bảo vệ tương tự BMP-3 cùng thiết bị phòng vệ NBC (chống vũ khí chứa phóng xạ - sinh học – hóa học), thiết bị dập lửa tự động.

Xe lắp động cơ diesel tua bin tăng áp UTD-29 V10 500 mã lực cho phép đạt tốc độ tối đa 70km/h, tầm hoạt động 600km. Xe có thể lội nước với tốc độ 10km/h.

Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu của khách hàng mà nhà sản xuất có thể đưa hệ thống Khrizantema lên xe thiết giáp bánh hơi hay bánh xích khác.

Kể từ khi ra đời tới nay, Khrizantema vẫn chưa có dịp thử lửa trên chiến trường. Nhưng gần đây, người ta đã ghi nhận loại vũ khí này được lực lượng NTC dùng để chống lại xe tăng của quân trung thành với cựu Tổng thống Libya Gaddafi. Dù vậy không rõ nó có lập chiến công nào không.

Lê Phương - (theo Military - Today)

đọc tiếp »

Apache 64 đánh bại Mi-28


DATVIET - Mi-28 được xem là trực thăng tấn công hàng đầu của Nga, song cũng như MiG-35, Mi-28 tiếp tục bại trận trên đất Ấn Độ.

Không quân Ấn Độ đã chính thức chọn AH-64D Apache làm trực thăng tấn công thế hệ tiếp theo của họ, đồng nghĩa với đó, Mi-28 chính thức bị loại.

Mi-28 được đánh giá là trực thăng tấn công hàng đầu của Nga, trang bị vũ khí mạnh, đặc tính bay tốt, xứng danh là một “sát thủ” trên chiến trường. Song cũng như Mig-35, Mi-28 tiếp tục bại trận cả trên bình diện trong nước và quốc tế.

So sánh tính năng của Mi-28 và AH-64D Apache để tìm xem đâu là nguyên nhân khiến Mi-28 bị loại trên một đất nước có truyền thống sử dụng vũ khí Nga.

Cấu tạo bên ngoài

Buồng lái của Mi-28 được thiết kế có chỗ cho 2 phi công, một ngồi trước và một phía sau, tương tự như Mi-24D và Mi-35.

Buồng lái của AH-64D cũng có thiết kế tương tự nhưng cả 2 phi công ngồi chung buồng lái chứ không phân biệt rõ như Mi-28. Mi-28 có mũi nhỏ, dài hơn và buồng lái cũng chật chội hơn so với AH-64D.

Cánh quạt rotor chính và rotor đuôi của hai loại tương tự nhau, tuy nhiên đường kính cánh quạt chính của Mi-28 dài hơn 17,2 m, trong khi của AH-64D chỉ khoảng 14,63 m.

Xét về phần khí động học, 2 loại trực thăng này tương đương nhau.

Khả năng cơ động tốt, tải trọng vũ khí lớn, nhưng sự hạn chế về công nghệ điện tử khiến Mi-28 bị loại trên đất Ấn Độ.

Khả năng cơ động

Mi-28 được trang bị hai động cơ Klimov TV3-117VMA, công suất 2.194 mã lực/động cơ. AH-64D được trang bị 2 động cơ General Electric T700-701D, công suất 2.000 mã lực.

Tốc độ tối đa của Mi-28 đạt 320km/giờ, tốc độ hành trình 270km/giờ, trong khi đó, tốc độ tối đa của AH-64D đạt 297km/giờ, tốc độ hành trình đạt 260km/giờ.

Như vậy, về khả năng cơ động Mi-28 nhỉnh hơn AH-64D. Các máy bay trực thăng của Nga luôn có các đặt tính bay ưu việt, đặc biệt là khả năng hoạt động hiệu quả tại những vùng khí hậu khắc nghiệt, các vùng núi cao.

Tầm hoạt động hiệu quả

Các động cơ nói chung và động cơ máy bay nói riêng do Nga sản xuất đều rất khỏe, luôn mạnh mẽ hơn so với các động cơ cùng loại của phương Tây.

Tuy nhiên, động cơ của Nga ngốn quá nhiều nhiên liệu, tạo tiếng ồn lớn và động cơ thải nhiều khói. Dù có khả năng mang tải trọng nhiên liệu lớn hơn nhiều so với AH-64D, song do "sức ăn" quá khỏe Mi-28 chỉ hành trình dữ trữ tối đa là 1.100km và bán kính chiến đấu hơn 200km, với trần bay đạt 5.700 m.

Tải trọng nhiên liệu của AH-64D tuy có ít hơn, nhưng do động cơ hoạt động hiệu quả, ít tốn nhiên liệu nên tầm hoạt động tối đa lên tới 1.900km. Bán kính chiến đấu của AH-64D khá rộng, lên tới 480km, với trần bay cao hơn hẳn, ở mức 6.400 m. AH-64D có khả năng hoạt động liên tục trong 3 giờ 9 phút.

Xét về độ bền khi hoạt động, AH-64D tỏ ra vượt trội so với Mi-28, trong điều kiện chiến đấu cường độ cao, độ hoạt động bền bỉ có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là với nhiệm vụ chi viện hỏa lực.

Tuy không có khả năng mang tải trọng vũ khí như Mi-28 song sự vượt trội về công nghệ điện tử đã giúp cho AH-64D dành chiến thắng. Về khả năng mang tải trọng vũ khí, Mi-28 hơn AH-64D, nhưng cơ số đạn của pháo 30mm lại ít hơn.

Tải trọng vũ khí

Mi-28 được trang bị một pháo 30mm Shipunow 2A42 phía dưới mũi máy bay, cơ số 250 viên đạn, tốc độ bắn tối đa khoảng 550 phát/phút. Tầm bắn hiệu quả với các mục tiêu mặt đất là 1.500 m và 2.500 m với các mục tiêu trên không.

Pháo 2A42 bắn đạn xuyên giáp có thể xuyên thủng giáp RHA dày 50mm từ độ cao 1.500 m. 4 giá treo hai bên cánh có khả năng mang theo 16 tên lửa chống tăng 9M120 Ataka, NATO định danh là AT-9, tầm bắn tối đa khoảng 8km, 2 giàn phóng rocket không điều khiển S-8 hoặc S-13.

Tên lửa AT-9 có khả năng xuyên giáp từ 950-1.000 mm sau giáp cảm ứng nổ, tên lửa được dẫn hướng bằng sóng vô tuyến. Gần đây Mi-28 được trang bị tên lửa chống tăng dẫn bằng laser AT-16, biến thể Mi-28N được bổ sung trang bị tên lửa không đối không Igla-S.

AH-64D được trang bị một pháo tự động M230-30mm phía dưới mũi máy bay, pháo có tốc độ bắn 625 phát/phút, cơ số đạn lên đến 1.200 viên. Ngoài ra, còn có 16 tên lửa chống tăng dẫn bằng laser AGM-114D Hellfire, tên lửa hoạt động theo nguyên tắc “bắn-quên” tầm bắn tối đa khoảng 8km.

AH-64D còn có khả năng mang tên lửa không đối không Stinger, AIM-9 Sidewinder, Mistral và Sidearm. Trong vai trò hỗ trợ cự ly gần, AH-64D có thể trang bị xen kẽ 4 tên lửa chống tăng và 4 tên lửa không đối không.

Như vậy, vũ khí của Mi-28 chủ yếu tập trung cho nhiệm vụ trên mặt đất còn AH-64D tuy mang vác "yếu" nhưng vũ khí đa dạng hơn, có thể thực hiện nhiệm vụ không đối đất và không đối không tầm thấp.

Ngay này, khả năng đa nhiệm đang là lựa chọn hàng đầu của quân đội các nước trên thế giới, mang số vũ khí lớn nhưng kém đa dạng chính là một khuyết điểm lớn.

Hệ thống điện tử

Hệ thống điện tử chính là điểm yếu cố hữu của các hệ thống vũ khí do Nga sản xuất. Mi-28 cũng không phải là một ngoại lệ. Dù các hệ thống điện tử trang bị cho Mi-28 được đánh giá là khá hiện đại nhưng vẫn không thể so sánh được với các hệ thống cùng loại được trang bị cho AH-64D.

AH-64D được trang bị một radar bước sóng milimet trên đỉnh của rotor chính, cung cấp khả năng phát hiện các mối đe dọa trong điều kiện tầm nhìn kém và các mục tiêu lộn xộn trên mặt đất.

Các cảm biến tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu TADS AN/ASQ-170 được gắn phía trước mũi máy bay, ngoài ra, AH-64D còn có hệ thống tương thích với thiết bị chỉ thị mục tiêu trên mũ phi công và pháo 30mm. Mỗi lần phi công quay đầu, hệ thống TADS và pháo 30mm cũng quay theo. Hệ thống có khả năng xoay ± 120 độ theo chiều ngang và 30/-60 độ theo chiều thẳng đứng.

Hệ thống cảm biến trước mũi của AH-64D Apache.TADS bao gồm: Một máy đo xa kiêm chỉ thị mục tiêu laser, camera ảnh nhiệt, camera truyền hình đa màu sắc.

Cảm biến nhìn đêm dành cho phi công AH-64D là PNVS AN/AAQ-11, với thành phần quan trọng là một camera hồng ngoại. PNVS chuyển động theo đầu của phi công với một góc ±90 độ theo chiều ngang và 20/-45 độ theo chiều lên xuống.

Ngoài ra, AH-64D còn được trang bị hệ thống tác chiến điện tử tích hợp AN/APR-39A (V), cảm biến cảnh báo radar AN/APR-48A, cảm biến cảnh báo laser AN/AVR-2, hệ thống gây nhiễu radar AN/ALQ-136, hệ thống mồi bẫy đối phó với tên đối không dẫn bằng hồng ngoại.

Hệ thống cảm biến tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu trước mũi của Mi-28

Mi-28 cũng được trang bị một radar bước sóng milimet trên đỉnh của rotor chính. Cảm biến tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu ảnh nhiệt, tương thích với hệ thống nhắm mục tiêu trên mũ phi công và pháo 30mm. Hệ thống nhắm bắn theo tầm nhìn của phi công, hệ thống có khả năng chuyển động ±110 độ theo chiều ngang , 13/-40 độ theo chiều lên xuống. Hệ thống bao gồm một máy đo xa laser, camera TV, và một hệ thống chỉ thị mục tiêu hồng ngoại.

Tuy nhiên, Mi-28 thiếu hệ thống tác chiến điện tử và hệ thống bảo vệ máy bay trước mối đe dọa từ tên lửa đối không.

Biến thể Mi-28N được bổ sụng hệ thống tác chiến điện tử, hệ thống hiển thị vị trí máy bay trên màn hình mô phỏng, buồng lái được trang bị màn hình tinh thể lỏng, phi hành đoàn được trang bị kính nhìn đêm. Nhưng dù thế nào, hệ thống điện tử của Mi-28 vẫn kém xa so với AH-64D về khả năng hoạt động cũng như các công nghệ được áp dụng.

Bù lại Mi-28 có đơn giá rất phải chăng, khoảng 12-16 triệu USD, trong khi đơn giá của AH-64D lên đến 18-30 triệu USD, tùy cấu hình.

Nhưng đối với một nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, tiền bạc xem ra không phải là vấn đề, do đó, hạn chế về công nghệ chính là nguyên nhân thất bại của Mi-28 trên đất Ấn Độ. Ngay ở trong nước Mi-28 cũng không thể cạnh tranh với KA-52 cho vị trí trực thăng tấn công chủ lực của quân đội Nga.

Quốc Việt (tổng hợp)

đọc tiếp »

Tìm hiểu về xe tăng Altay của Thổ Nhĩ Kỳ


DATVIET - Lần đầu tiên từ năm 1943, Thổ Nhĩ Kỳ quyết định phát triển xe tăng nội địa hiện đại, với sự hợp tác của rất nhiều công ty quốc phòng trong nước và thế giới.

Dù là một đất nước có nền công nghiệp quốc phòng mạnh với nhiều công ty sản xuất vũ khí đã có tiếng tăm trên thế giới như Aselsan hay Otokar nhưng trong một thời gian dài, lục quân Thổ Nhĩ Kỳ phải sử dụng xe tăng nhập khẩu từ nước ngoài. Chỉ gần đây, nước này mới giới thiệu loại xe tăng nội địa đầu tiên từ sau thế chiến 2 có tên Altay.

Một mẫu thiết kế của Altay tương tự như K2 Black Panther của Hàn Quốc.

Nhằm cải thiện khả năng chiến đấu của lục quân Thổ Nhĩ Kỳ cũng như tăng cường năng lực tự chủ, Bộ Quốc phòng nước này quyết định khai thác hết tinh hoa của các công ty quốc phòng trong nước cho mục tiêu phát triển xe tăng nội địa.

Trên thực tế, chương trình phát triển xe tăng Altay chính thức bắt đầu từ tháng 8/2008 tại nhà máy của công ty Otokar với sự hợp tác của rất nhiều công ty trong và ngoài nước như Rheinmetall của Đức hay Huyndai của Hàn Quốc.

Trong đó, công ty nội địa Aselsan chịu trách nhiệm sản xuất hệ thống kiểm soát hỏa lực Volkan-III, hệ thống điều khiển, thông tin, liên lạc. Tập đoàn hóa chất cơ khí công nghiệp nhà nước (MKEK) chịu trách nhiệm sản xuất pháo chính 120 mm, có sự hợp tác với Rheinmetall. Công ty Rocketsan thiết kế và sản xuất vỏ giáp cho xe. Cùng với đó, Huyndai chia sẻ một số công nghệ của xe tăng K2 Black Panther của Hàn Quốc.

Mẫu đồ họa 3D của xe tăng Altay được giới thiệu vào tháng 8/2010.

Mô hình 3D của Altay được giới thiệu từ tháng 8/2010 với tháp pháo thiết kế giáp đứng (tương tự như xe tăng Leopard 2A4 của Đức) nhưng mẫu thử nghiệm xe tăng đầu tiên được trưng bày ngày 10/5/2011 tại Istanbul lại cho thấy thiết kế phần trước tháp pháo hình chữ V (giống rất nhiều loại xe tăng hiện đại trên thế giới như Leopard 2A6, T-90 hay Type-99).

Xe tăng Altay có chiều dài thân 10,0 mét (cả pháo chính ở vị trí hướng nòng về phía trước), rộng 3,6 mét và cao 2,5 mét và có khối lượng 55 tấn, tương đương với một chiếc K2 của Hàn Quốc và hơi nhỏ hơn các loại xe tăng khác của NATO như Leopard 2A6, Challenger hay M1 Abrams.

Thiết kế bên trong của chiếc xe tăng tương tự như các xe tăng thông thường khác với lái xe phía trước, trưởng xe và pháo thủ ở giữa và động cơ ở phía sau.

Phần thân xe của Altay được kéo dài hơn so với K2 với xích xe trang bị 7 bánh dẫn động. Điều này cho phép lắp đặt động cơ công suất lớn hơn và giáp bảo vệ tốt hơn.

Hai loạt xe được sản xuất đầu tiên sẽ được trang bị động cơ MTU 883 1.500 mã lực (tương đương với động cơ M1 Abrams hay Leopard 2A6). Tuy nhiên, từ loạt xe thứ ba trở đi, Altay sẽ được trang bị động cơ với công suất lớn hơn, 1.800 mã lực giúp xe có thể đạt được tốc độ tới 70 km/h trên địa hình đường bằng phẳng và có thể lội qua khu vực nước sâu tới 4,1 mét.

Sơ đồ bố trí vũ khí và thiết bị trên xe tăng Altay.

Vũ khí chính của xe là pháo nòng trơn L55 120 mm do Rheinmetall (Đức) thiết kế. Đạn pháo sẽ được chứa trong khoang đặc biệt của tháp pháo với các tấm chắn dễ dàng bung ra khi đạn bị bắn nổ, tăng sự an toàn cho kíp xe.

Ngoài ra, xe còn được trang bị một súng máy phòng không 12,7 mm, bố trí trên một ụ súng được điều khiển từ xa và một đại liên đồng trục 7,62 mm. Tất cả các vũ khí này sẽ được điều khiển bằng hệ thống điều khiển hỏa lực được vi tính hóa Volkan-III.

Hệ thống này được hỗ trợ bởi các thiết bị quan sát ảnh nhiệt và đo xa laser giúp cho phép xe có thể duy trì khả năng bắn chính xác trong cả điều kiện ban đêm và thời tiết xấu.

Mẫu thử chính thức của xe tăng Altay được giới thiệu tại Istanbul vào tháng 5/2011

Hiện tại, Thổ Nhĩ Kỳ hoàn thành việc sản xuất 4 mẫu xe Altay để phục vụ cho các thử nghiệm thực địa.

Dự kiến, xe tăng Altay sẽ phục vụ trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2015 với số lượng lên tới 1.000 chiếc, sản xuất theo 4 loạt, mỗi loạt 250 chiếc.

Altay sẽ dần thay thế các loại xe tăng M-60, Leopard-1 và Leopard 2A4 đang phục vụ trong quân đội nước này.

Đồng Tâm (tổng hợp)

đọc tiếp »

Tìm hiểu xe tăng Expeditionary của Mỹ


DATVIET - Thiết kế T-95 (Nga) từng được thán phục vì có tháp pháo tự động hóa cao độ. Tuy nhiên, đây không phải mẫu xe tăng đầu tiên như vậy.

Từ năm 1980, Sư đoàn bộ binh số 9 của Mỹ đã bắt đầu thử nghiệm một loạt các mẫu xe tăng thử nghiệm, là một phần trong chương trình Ứng dụng công nghệ cao vào các sư đoàn bộ binh hạng nhẹ (HTLD - High Technology Light Division).

Một trong những mẫu thử nghiệm sau đó được phát triển khá hoàn thiện là xe tăng Expeditionary.

Được thiết kế với mục đích có thể được chuyên chở trên máy bay vận tải C-130, xe tăng Expeditionary có kích thước khá khiêm tốn, chỉ dài 7,49 mét (bao gồm cả pháo chính), rộng 2,69 mét và cao 2,8 mét với tổng khối lượng chỉ có 19 tấn.

Điểm đặc biệt của loại xe tăng này là tháp pháo sử dụng hệ thống nạp đạn tự động EGT (External Gun Turret), được thiết kế với kích cỡ khá nhỏ và vị trí lùi về cuối xe với phần thân trước xe được thiết kế với độ nghiêng lớn.

Xe được trang bị một động cơ diesel công suất 495 mã lực, có thể chạy với tốc độ tới 80 km/h và tầm hoạt động 480 km.

Một trong những mẫu phác thảo thiết kế xe tăng T-95 của Nga.

Xe tăng Expeditionary chỉ có khối lượng 19 tấn và dễ dàng chuyên chở bằng máy bay vận tải C-130 phục vụ các nhiệm vụ phản ứng nhanh.

Lớp giáp của Expeditionary được làm bằng thép có độ cứng cao, có khả năng chống lại các loại đạn súng máy và mảnh văng của pháo.

Ngoài ra, trong điều kiện chiến trường, xe tăng này có khả năng lắp thêm các miếng giáp rời khác, gồm giáp phản ứng nổ ERA trong thời gian ngắn và không cần dụng cụ đặc biệt. Xe cũng được trang bị hệ thống chữa cháy tự động Halon 1301 cùng với hệ thống phòng chống NBC.

Kíp xe gồm ba người: trưởng xe, pháo thủ và lái xe ngồi trong một khoang bọc giáp đặc biệt ở gần phía sườn xe.

Vũ khí chính của Expeditionary là pháo nòng xoắn cỡ 105 mm được đặt trên tháp pháo tách rời xe, không có người bên trong và trang bị hệ thống nạp đạn tự động kiểu ổ quay.

Vũ khí chính của Expeditionary là pháo nòng xoắn M35 cỡ 105 mm được điều khiển từ xa với hệ thống nạp đạn tự động kiểu ổ quay có 9 viên đạn nạp sẵn.

Ngoài ra, xe tăng còn có súng máy M240 cỡ 7,62 mm cơ số đạn là 400 viên. Ngoài ra, xe còn mang thêm 26 đạn pháo 105 mm và 3.600 viên đạn 7,62 mm cho súng máy.

Hệ thống điện tử của xe tăng Expeditionary là loại hiện đại nhất trong thập niên 1990 của Mỹ với máy tính kiểm soát hỏa lực M21, thiết bị đo xa laser AN/VVG-2 cùng thiết bị trinh sát ảnh nhiệt AN/TAS-4.

Ngoài ra, lái xe còn được trang bị kính tiềm vọng nhìn đêm AN/VVS-2 cho phép quan sát tốt hơn trong điều kiện ánh sáng yếu.

Pháo chống tăng tự hành, hỗ trợ hỏa lực bắn thẳng M1128 Stryker, hiện đang phục vụ trong quân đội Mỹ đã được trang bị tháp pháo của xe tăng Expeditionary (sau khi cải tiến).

Tuy mang nhiều đặc điểm thiết kế rất hiện đại nhưng Expeditionary gặp phải nhiều vấn đề do hạn chế về khoa học kỹ thuật đương thời.

Do kích cỡ nhỏ, tháp pháo của xe không được trang bị thiết bị ổn định tầm, hướng và các hoạt động như nạp đạn, sửa chữa đều yêu cầu kíp xe thao tác từ phía ngoài.

Súng máy M240 trang bị theo xe cũng không phải là loại đồng trục mà được lắp phía rìa tháp pháo, điều này làm giảm độ chính xác khi tác xạ.

Thêm nữa, cơ chế nạp đạn kiểu ổ quay và pháo chính của Expeditionary thường gặp trục trặc khi vận hành, khiến loại xe tăng này khó được chấp nhận.

Chương trình phát triển xe tăng Expeditionary bắt đầu từ năm 1982. Phần thân xe của mẫu thử đầu tiên được hoàn thành vào tháng 12/1983 và phần tháp pháo được hoàn thành vào giữa năm 1984.

Vào tháng 4/1985, sau khi hoàn thành thử nghiệm tại sa mạc Nevada, lần đầu tiên xe tăng Expeditionary đã được giới thiệu trước công chúng tại Fort Knox.

Tuy nhiên, xe tăng Expeditionary đã thất bại trước xe tăng M8 Buford trong chương trình đấu thầu sản xuất xe tăng hạng nhẹ AGS năm 1992 (sau này chương trình AGS bị hủy bỏ và xe tăng M8 Buford không bao giờ được đưa vào trang bị chính thức trong quân đội Mỹ).

Năm 1996, xe tăng Expeditionary một lần nữa lại được đưa ra thị trường nhưng chẳng có khách hàng nào đặt mua và sau đó phải nhường chỗ cho biến thể pháo tự hành bánh hơi M1128 Stryker.

Sau này, thiết kế tháp pháo ưu việt của Expeditionary được cải tiến, nâng cấp và gắn trên thân xe Stryker để trở thành biến thể pháo chống tăng tự hành M1128, có khả năng vận chuyển bằng máy bay vận tải C-130 và đang phục vụ trong quân đội Mỹ.

Nguyễn Linh (theo Military Today)

đọc tiếp »

So sánh hai loại máy bay tàng hình F-22 và J-20


PNTD - Trung Quốc vừa mới cho ra “lò” loại máy bay tàng hàng thế hệ 5 lấy tên J-20. Khi ra đời, loại máy bay chiến đấu này đã gây rất nhiều sự chú ý của các chuyên gia quân sự trên thế giới. Sứ mệnh của J-20 không đơn giản chỉ là bổ xung cho sức mạnh quân sự của Trung Quốc mà còn là sự đối trọng với loại máy bay tàng hình F-22 của Mỹ.

Một số chuyên gia đã nói rằng, J-20 có sức mạnh tương đương với F-22, nhưng các ý kiến trái chiều lại cho rằng, loại máy bay này của Trung Quốc chỉ là một “con diều hâu giấy” và không thể so sánh được với F-22, một loại máy bay cực kỳ tối tân.

Kết cấu

J-20 của Trung Quốc

Thiết kế của J-20 gần như là sản phẩm chắp vá bởi các thành phần kết cấu của SU-47, MiG-1.44 đã lỗi thời, T-50 của Nga và F-22, F-35 của Mỹ. Chiếc máy bay có đuôi hình chữ V, hai cửa hút gió DSI hình chữ S, dài khoảng 21-23 m, sải cánh 14-15m, trọng lượng cất cánh tối đa là 34-40 tấn. Buồng lái vòm giống F-22 của Mỹ. Nhìn chung các chi tiết cánh và cửa hút gió được đúc rút từ chiếc J-10 và JF-17. Các chi tiết hiện đại khác hầu như dựa trên chiếc F-22.

MiG 1.44 của Nga

Tuy nhiên J-20 không có động cơ thế hệ 5 để phát triển, chính vì vậy J-20 vẫn chỉ là loại chiến cơ thế hệ 4+. Các cánh đứng dưới thân máy bay lại càng làm cho độ bộc lộ của J-20 với radar địch tăng. Trong khi đó F-22 là một chiến đấu cơ được tính toán thiết kế toàn diện, có hệ thống radar, khả năng bay hoàn thiện hơn J-20, khả năng ẩn độ bộc lộ gần như hoàn hảo nhất hiện nay. Hơn nữa, cánh mũi của J-20 không tốt vì nó làm tăng RCS của máy bay khi bay với tốc độ siêu âm.

Su-47 của Nga

Sức mạnh tấn công

Theo các nguồn tin thì J-20 không dùng để không chiến, mà dùng để tấn công mặt đất tầm xa. Một ưu thế của J-20 đó là nó có thể mang nhiều vũ khí và thùng nhiên liệu lớn hơn, hoạt động trong phạm vi xa hơn. Khoang chứa có thể chứa đến 6 quả bom loại 250-500kg. Hai bên cánh có thể được bố trí tên lửa không chiến tầm trung.

J-20 đang biểu diễn

Động cơ 180KN và các thiết kế tổng thể của J-20 được các chuyên gia cho rằng nó sẽ hoạt động êm hơn máy bay PAK-FA của Nga. Tuy nhiên các loại vũ khí chính thức của loại máy bay này chưa được tiết lộ chính thức trên báo giới.

F-22 của Mỹ

Ngược lại, F-22 là máy bay hiện đại nhất hiện nay sau T-50 của Nga, trang bị bởi hai động cơ phản lực cánh quạt đẩy có tốc độ siêu âm. Vũ khí của F-22 toàn là các loại vũ khí có khả năng tấn công cao như bom tấn công ghép nối trực tiếp tiêu diệt mục tiêu cách nó 24 dặm, bom bán kính nhỏ, súng M61A2 là vũ khí sử dụng 480 viên đạn để bắn trong 5 giây liên tục. F-22 còn có khả năng tấn công hệ thống điện tử của địch.

T-50 của Nga

Ngoài ra, F-22 còn có khả năng không chiến, tấn công mặt đất, chiến tranh điện tử và trinh sát tín hiệu hoàn hảo.

Công nghệ

So với Mỹ, công nghệ sản xuất máy bay của Trung Quốc vẫn còn quá non trẻ. Trong khi Mỹ phát triển máy bay tàng hình hơn 20 năm đặc biệt thành công với chiếc F-22, thì Trung Quốc mới chỉ phát triển mấy năm gần đây.

F-22 đang bay

Mỹ có thể chế tạo ra vật liệu composite các bon để làm vỏ máy bay, thì Trung Quốc còn cả một con đường dài trong việc chế tạo ra vật liệu composite này. Chính vì thế các máy bay Trung Quốc khó có thể cất cánh với trọng lượng cao được.

Một điểm then chốt đó là, Trung Quốc chưa có khả năng chế tạo động cơ turbo phản lực đáng tin cậy cho dòng máy bay chiến đấu. Một minh chứng cho điều này đó chính là Trung Quốc vẫn chưa hoàn thiện loại động cơ 90KN cho chiếc JF-17.

Hơn nữa, để so sánh năng lực chiến đấu giữa Trung Quốc và Mỹ, thì phi công Trung Quốc có ít kinh nghiệm chiến đấu hơn khi sử dụng các loại máy bay tối tân hơn Mỹ. Bởi Mỹ đã sử dụng các loại chiến cơ tàng hình trong các cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq trong khi Trung Quốc chưa từng sử dụng chúng để lâm trận thực sự. Trung Quốc cũng cần phải mất 10-20 năm để đạt được sự cân bằng với Mỹ về công nghệ lẫn số lượng máy bay chiến đấu tàng hình.

J-10

Việc cho ra đời hai loại máy bay J-10 và J-20 là một thành công lớn đối với khoa học Trung Quốc. Tuy nhiên, so sánh với sự phát triển của các loại máy bay quân sự trên thế giới, sức mạnh của hai chiếc máy bay này vẫn còn rất nhiều vấn đề phải bàn.

Pha Lê

đọc tiếp »
of
 
Đối tác | Phong thuy | Tài Chính - Kế Toán | Truyện Tranh Online | Code1k.com | Movang.info | Quần Áo Rẻ Đẹp | 123 Mua Nhanh | SucManhSEO™ | Dịch Thuật Việt |

Hot Defence | ©2008 - 2010 All Rights Reserved by Khanh Nguyen | Website được xây dựng trên nền Blogspot | Xem tốt nhất trên trình duyệt FireFox.

Xin liên hệ Khanh Nguyen qua số ĐT: 016.93.94.95.96
Lượt khách : xxxxx Lượt truy cập : xxxxx
Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang